Bàn về nghị định quản lý phân bón

Bàn về nghị định quản lý phân bón

Trong 49 điều nghị định 108/2017/NĐ-CP về quản lý phân bón, tôi cho là quan trọng nhất là điều 34 – nhãn phân bón , vì nó tương tác trực tiếp với người nông dân, nó làm căn cứ để đánh giá, kiểm tra, quản lý nhà nước.  Vậy mà chỉ vài dòng sau :

“ Điều 34. Nhãn phân bón

1. Phân bón lưu thông trong nước, phân bón nhập khẩu phải ghi nhãn theo đúng quy định của Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14 tháng 4 năm 2017 của Chính phủ về nhãn hàng hóa

2. Nhãn phân bón ngoài nội dung bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14 tháng 4 năm 2017 của Chính phủ về nhãn hàng hóa thì phải ghi thêm loại phân bón và số quyết định công nhận phân bón, đối với phân bón lá phải ghi rõ cụm từ “phân bón lá”.

 3. Nội dung ghi trên nhãn đúng với nội dung Quyết định công nhận phân bón lưu hành tại Việt Nam.”

Có bao nhiêu người nông dân đã đọc, hiểu và đang quyết định mua phân bón khi nhìn “ số quyết định công nhận phân bón “ ? thậm chí họ còn phải biết cả những nội dung trên nhãn đúng với nội dung của quyết định ấy !!! vô hình chung đã làm giảm khả năng giám sát về phân bón của chính từng người sử dụng.

Như vậy những bức xúc hay thiệt hại thực tế khi mua phải phân bón giả hoặc kém chất lượng thì người nông dân rất khó có cơ sở chỉ ra.

Nguyên tắc quản lý trong nghị định 108/2017/NĐ-CP chủ yếu tập trung vào việc thực hiện đúng qui trình và một số thủ tục hành chính. Chưa chú trọng nhiều đến mục tiêu cụ thể là phân bón đang dễ gian lận, khó quản lý giám của cơ quan chức năng, bà con nông dân dễ mua phải phân bón kém chất lượng.

Quan trọng là :

  • Chỉ ra chất cấm, hàm lượng cấm không được xuất hiện trong phân bón.
  • Qui định cách đặt tên hướng theo gốc phân bón để mọi người cùng định danh đúng, dễ nhận dạng thương phẩm phân bón.
  • Bắt buộc ghi đủ thành phần trên nhãn, để làm cơ sở hậu kiểm, đánh giá đúng giá trị và khả năng sử dụng.

Nắm chắc cái này sẵn sàng buông các qui định về công nhận, khảo nghiệm, thủ tục hành chính vv… để mọi người mọi cơ sở sản xuất phát huy khả năng đóng góp chất xám cho xã hội. Đồng thời bắt nhịp kịp với các nhu cầu chủng loại phân bón liên tục thay đổi, đảm bảo sức cạnh tranh.